Tác dụng chè dây điều trị loét hành tá tràng- PGS.TS VŨ NAM Phần 1 Tác dụng

Bài viết được trích dẫn từ tài liệu “Góp phần nghiên cứu tác dụng của chè dây trong điều trị loét hành tá tràng” của PGS.TS Vũ Nam

Traday xin trích dẫn một phần cuốn sách-Tác dụng trà dây

Chè dây là một trong những vị thuốc dân gian chữa bệnh dạ dày còn lưu truyền ở các dân tộc miền núi. Chè dây còn được gọi là trà dây, bạch liễm, Thau rả ( theo dân tộc Tày), Khau rả (theo dân tộc Nùng), có tên khoa học là Ampelopsis Cantoniensis Planch họ Nho (Vitaceae). Vị thuốc này chưa được ghi vào tài liêu ” Những cây thuôc và vị thuốc Việt Nam ” của Đỗ Tất Lợi và trong Dược Điển Việt Nam. Chè dây mới ghi nhận trong một số tài liệu về thực vật.

Trong nhiều năm qua bệnh viện y học dân tộc tỉnh Cao Bằng đã dùng chè dây để chữa đau dạ dày và thu được kết quả giảm đau khả quan. Năm 1989 bệnh vện Y học dân tộc quân đội đã dùng chè dây điều trị viêm loét dạ dày hành tá tràng và thu được một số kết quả nhất định

Trà dây

Trà chè dây thanh mát, dễ uống

Bệnh loét dạ dày hành tá tràng khá phổ biến trong nhân dân dân Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới. Nguyên nhân gây bệnh có nhiều, nhưng người ta vẫn chưa phát hiện được nguyên nhân chung cho tất cả thể loét vì vậy có nhiều thuyết được đưa ra để giải thích cơ chế  bệnh sinh bệnh loét. Giả thuyết đươc công nhận nhiều nhất và cũng từ đó đề ra những phương pháp thăm dò và điều trị là thuyết về sự mất cân bằng giữa yếu tố gây loét ( acisd HCl, pepsin và HP) và yếu tố chống loét ( chất nhầy, sự tái sinh của tế bào và mạng lưới mao mạch niêm mạc).

Ngày nay người ta đều trị  bệnh theo sinh lý bệnh và theo nguyên nhân gây bệnh bằng một số thuốc như thuốc kháng acid,thuốc ức chế bơm proton, thuốc kháng sinh,…

Trong tình hình hiện nay ở nước ta thuốc tây điều trị loét dạ dày hành tá tràng rất nhiều và cho hiêu quả cao. Tuy nhiên tình hình kinh tế trong nước và khả năng tài chính có hạn của bệnh nhân chúng ta chưa thể áp dụng một cách đại trà các thành tưụ về thuốc của y học thế giới trong điều trị bệnh loét. Chủ yếu vẫn phải dựa vào các thuốc sản xuất với nguyên liệu sẵn có trong nước và các thuốc này vẫn phải lấy cơ sở sinh lí bệnh học của bệnh loét mà y học thế giới đang chấp nhận.

Các công trình nghiên cứu điều trị bệnh bằng dược liệu trong nước trước đây chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm là chính mà không có nghiên cứu thực nghiệm. Khi thử nghiệm trên lâm sàng thường không sử dụng các trang thiết bị hiện đại để chứng minh. Một phần do điều kiện kinh tế xã hội, các công trình nghiên cứu này chủ yếu nhằm đánh giá và nhận định kết quả của điều trị bằng việc dựa vào khả năng cắt cơn đau hoặc rút ngắn chu kì đau.

Trên quan điểm tìm kiếm một loại thuốc mới chữa bệnh mà có nguồn gốc từ cây thuốc dân gian sẵn có và sử dụng các kĩ thuật hiện đại để chứng minh, chúng tôi đi sâu nghiên cứu về cây chè dây

Kết quả nghiên cứu ban đầu trên lâm sàng của bệnh viên Y học dân tộc Cao Bằng cho thấy chè dây có tác dụng giảm đau khả quan trong điều trị chứng đau dạ dày. Năm 1989 bệnh viện Y học quân đội đã nghiên cứu đánh giá tác dụng của chè dây điều trị viêm loét dạ dày tá tràng trên lâm sàng và X quang. Nghiên cứu cho thấy chè dây có tác dụng tốt cắt được cơn đau, cải thiện tốt các triệu chứng: ăn kém, ngủ kém, ợ hơi, ợ chua và hình ảnh ổ loét trên X quang được cải thiện rõ rệt (Bành Văn Khửu).

Mô tả cây chè dây

Nghiên cứu về thực vật học đã xác định tên khoa học của cây Chè dây là Ampelopsis Cantoniensis Blanch họ Nho (Vitaceae) (Vũ Văn Chuyên 1991).

chè dây

Cây chè dây trông như thế nào?

 

Đặc điểm thực vật:

-Chè dây là cây leo, thân và cành cứng hình trụ mảnh. Thân dài khoảng 2 – 3m, bám vào cây khác.

-Lá dạng kép, mọc so le nhau, có tua cuốn mọc đối xứng với lá. Lá dài 7 – 10cm, có răng cưa ở viền. Mặt trên lá màu xanh nhạt. mặt dưới xanh sẫm. Khi lá non, thường có màu xanh tía, càng lớn càng chuyển sang xanh đậm.

-Hoa trà dây giống nụ hoa tam thất, bông mọc thành chùm, màu trắng, mọc đối diện với lá. Hoa thường nở khoảng tháng 6 – tháng 7.

-Quả hình trái xoan, mọng, khi chín có màu đen, bên trong có khoảng 3 – 4 hạt. Quả thường ra vào tháng 9.

Lá khô thường nhàu nát, khi dàn phẳng có hình trái xoan hoặc hình mũi mác, dài 2,5 cm đến 7,5 cm, phía cuống tù hay hơi tròn, đầu lá nhọn, mép có ít răng cưa. Mặt trên lá chè dây màu lục xám, có những vết trắng loang lổ trông như mốc, mặt dưới màu nhạt hơn. Cuống lá nhẵn, dài 3 mm đến 12 mm. Thể nhẹ, chất giòn, dề gãy nát, mùi thơm, vị đắng sau hơi ngọt nhẹ.

Trà dây

Trà dây

Trong lá và thân cây chè dây có flavonoid, tanin và hợp chất uronic, trong đó flavonoid là thành phần chính chiếm 19,3% tính theo dược liệu khô. Chè dây chứa hai flavonoid là Myricetin và Dihydromyricetin (Phạm Thanh Kỳ và CS 1994). Hai flavonoid Chè dây không gây ngộ độc cấp tính cũng như không gây nên những tổn thương cho nhiễm sắc thể và cho vật liệu di truyền (Trịnh Văn Bảo và CS 1993).

Tác dụng dược lí của chè dây

Cây chè dây phân bố ở nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Lào…Ở Việt Nam, cây chè dây có ở nhiều tỉnh thành. Nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lào Cai (Sapa), Hà Giang… Các dân tộc miền núi thường sử dụng chè dây để phòng bệnh và chữa các bệnh viêm loét dạ dày hành tá tràng cũng như một số bệnh đường tiêu hóa nói chung

Nghiên cứu của Hoàng Tích Huyền, Phạm Thanh Kỳ, Phùng Thị Vinh và CS đã xác định Chè dây có khả năng:

  • làm giảm độ acid HCl invitro và làm giảm acid HCl dịch vị invitro
  • Ức chế các ở loét
  • Giảm đau rõ rệt và có ý nghĩa
  • Ức chế sự phát triển của một số chủng vi khuẩn

Chè dây điều trị loét dạ dày hành tá tràng cho kết quả tốt hơn Alusi (một loại thuốc đặc hiệu điều trị loét dạ dày). Điều trị bằng trà dây bệnh nhân loét hành tá tràng hết đau sớm có tỉ lệ liền sẹo cao và tỉ lệ làm sạch H.pylori cao, đồng thời viêm dạ dày giảm rõ rệt.

Chè dây giảm đau

Trà dây có tác dụng cắt cơn đau do viêm loét dạ dày hành tá tràng. Thời gian cắt cơn đau trung bình của chè dây là khoảng 8,9 ngày ngắn hơn Alusi là 17,35 ngày.

Đau thượng vị là một triệu chứng thường gặp của bệnh. Đau thượng vị tuy là một triệu chứng chủ quan và phụ thuộc vào bệnh nhân nhưng thuốc chữa bệnh loét càng cắt được cơn đau càng sớm càng có giá trị, khi bệnh nhân hết đau thường kèm theo cảm giác muốn ăn và cảm giác ngon miệng, người dễ chịu và giấc ngủ thường khá hơn vì người bệnh loét hành tá tràng thường đau về đêm và kéo theo mất ngủ.

đau dạ dày

Đau dạ dày

Thời gian cắt cơn đau ngắn của chè dây không những có giá trị về mặt lâm sàng mà còn giúp thầy thuốc tiên lượng khả năng liền sẹo của ổ loét. So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây, kết quả cắt cơn đau của chè dây cao hơn các thuốc Antacid (Alusi, Almaca) và tương đương với các thuốc chống bài tiết acid (Tagamete, Ranitidine)

Trong điều trị loét hành tá tràng chè dây cắt được cơn đau nhanh là nhờ:

  • Chè dây có tác dụng giảm đau nói chung mà trên thực nghiệm đã xác định ( Hoàng Tích Huyền và CS 1991)
  • Trà dây trung hòa acid dịch vị giống như các thuốc Antacid (Hydroxyd nhôm và magie) ặc biệt các thuốc này có tác dụng kéo dài 20 giờ. Mặt khác nó còn có tác dụng ức chế bài tiết dịch vị invitro
  • Chè dây có tác dụng làm giảm viêm dạ dày

Chè dây làm liền sẹo ổ loét hành tá tràng

Chè dây có tác dụng chóng liền sẹo. Khả năng làm liền sẹo ổ loét hành tá tràng của chè dây (79,55%) cao hơn Alusi (50%), nội soi dạ dày cho thấy tỉ lê liền sẹo trắng chất lượng tốt của chè dây chiếm 54,28% cao hơn Alusi chiếm 38,88%. So sánh tỉ lệ liền sẹo ổ loét hành tá tràng của Chè dây 79,55% với các thuốc đơn độc điều trị loét hành tá tràng thì hiệu quả của chè dây không thua kém mấy so với các thuốc ức chế bài tiết acid như Cimetidine, Famotidine.

Chè dây có được tác dụng liền sẹo là do đối phó được các yếu tố gây loét và tăng cường sức đề kháng của niêm mạc. Mặt khác chè dây có khả năng chống loét rõ và có tác dụng giảm viêm dạ dày, cải thiện mang lưới mao mạch niêm mạc giúp cho sự tái tạo tế bào biểu mô bề mặt và tăng cường sự đề kháng của niêm mạc

Chè dây làm sạch vi khuẩn Helicobacter pylori (H.P)

Chè dây có tỉ lệ làm sạch HP (42,5%) cao hơn Alusi (19,35%). Khả năng diêt H.P của Chè dây còn được tăng cường bởi tình trạng kiềm tính của dịch vị đã được trung hòa kéo dài. Ngoài ra kết quả nghiên cứu cho thấy tác dụng kháng khuẩn của flavonoid chè dây gần tương đương với kháng sinh đối chứng Ampicillin, Tetracylin.

Chè dây chống viêm

Chè dây có tác dụng làm giảm viêm niệm mạc dạ dày tốt hơn Alusi. Trong bệnh loét dạ dày hành tá tràng thờng có kèm theo viêm niêm mạc dạ dày. Những bệnh nhân điều trị bằng cây chè dây thường có mức độ hoạt động của viêm niêm mạc dạ dày giảm xuống rõ rệt, đa số bệnh nhân hết viêm họăc viêm dạ dày chỉ còn ở mức độ nhẹ.

Không chỉ diệt vi khuẩn HP mà còn làm giảm viêm dạ dày. Tác giả Marshall và Moris (1985) đã chứng minh H.P là nguyên nhân chính gây viêm loét hang vị. Chính vì trà dây chứa hàm lượng lớn flavonoid mà nó có tác dụng chống viêm và giảm viêm dạ dày. Từ đó góp phần cho kết quả điều trị và liền sẹo cao.

 

Comments (No)

Leave a Reply