Nghiên cứu về chè dây của TS Vũ Hương Thủy Phần 1

Bài viết được trích từ tài liệu “Nghiên cứu phân lập, tinh chế Myricetin và Dihydromyricetin từ lá cây chè dây làm chất chuẩn” của TS Vũ Hương Thủy

Traday xin trích dẫn một phần cuốn sách

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được thiên nhiên ưu ái ban tặng một thảm thực vật phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều dược liệu đã được nhân dân ta sử dụng để phòng bệnh và chữa bệnh.

Cho tới nay đã có nhiều sách tập hợp các công trình nghiên cứu về dược liệu cũng như kinh nghiệm phòng và chữa bệnh của nhân dân ta như: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi, Từ điển cây thuốc của Võ Văn Chi, Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam của tập thể tác giả ở Viện Dược liêụ.

Nghiên cứu về chè dây của TS Vũ Hương Thủy Phần 1 5

Cây chè dây

Từ lâu chè dây đã được nhiều người biết đến như một vị thuốc chữa viêm loét dạ dày hành tá tràng hiệu quả mà không mấy tốn kém. Cây chè dây hay còn được gọi là Thau rả (theo dân tộc Tày), Khau rả (theo dân tộc Nùng). Đây là loại dây leo có vị ngọt đắng, tính mát, được đồng bào miền núi sử dụng như một vị thuốc dân gian chuyên chữa các bệnh liên quan đến dạ dày như ợ hơi, ợ chua, đau rát thượng vị,…Ngoài ra chè dây còn có tác dụng an thần, chữa mất ngủ.

Trong 20 năm trở lại đây chè dây đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước. Tiêu biểu là các nghiên cứu của Phạm Thanh Kì và cộng sự. Qua các nghiên cứu này, các nhà khoa học đã xác định được thành phần có tính sinh học chính trong chè dây có tác dụng phòng và chữa bệnh là nhóm flavonoid với 2 chất chính là myricetin và dihydromyricetin.

Đồng thời, chè dây cũng trở thành nguồn nguyên liệu đưa vào sản xuất thuốc đông dược với sự ra đời của viên nang Ampelop do Phạm Thanh Kì và nhóm cộng sự nghiên cứu, sau đó được chuyển giao cho công ty cổ phần Traphaco.

Sự phát triển của nhóm thuốc đông dược nói chung và các chế phẩm có chứa chè dây nói riêng trên thị trường Việt Nam đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về đảm bảo chất lượng thuốc.

Qua các công trình nghiên cứu trước đó chúng tôi nhận thấy mặc dù hàm lượng dihydromyricetin trong lá chè dây cao hơn myricetin trong lá chè dây nhưng hàm lượng myricetin trong cao chè dây lại cao hơn hàm lượng dihydromyricetin nhiều lần. Bên cạnh đó các đề tài trước đây chưa sử dụng chất chuẩn chính thức.

Nghiên cứu về chè dây của TS Vũ Hương Thủy Phần 1 6

Để góp phần xây dựng bộ chất chuẩn đối chiếu chúng tôi được giao nhiệm vụ thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phân lập, tinh chế Myricetin và Dihydromyricetin từ lá cây chè dây làm chất chuẩn” với mục tiêu chiết xuất, phân lập, tinh chế Myricetin và Dihydromyricetin từ lá cây chè dây (Ampelopsis cantoniensis Planch) đủ lượng và đạt độ tinh khiết làm chất chuẩn đối chiếu trong kiểm nghiệm

Mô tả về cây chè dây

Cây chè dây còn có tên khoa học là Ampelopsis Cantoniensis (Hook.et arn) Planch. Họ nho Vitaceae

Cây chè dây ở dạng dây leo dài, xanh tốt, leo trên các bụi rậm hoặc trên các cây to khác trong rừng. Cây mọc hoang và cũng được người dân mang về trồng trong vườn hoặc ở bờ rào. Cây sống lâu năm, mùa đông lá vàng rụng dần, mùa xuân cây bắt đầu mọc chồi, lá xanh tốt nhất vào mùa hè, cũng là mùa nhân dân địa phương thường thu hoạch lá, ra hoa tháng 6, ra quả tháng 10.

Cây thân leo, sống lâu năm, lá mọc so le, lá kép lông chim lẻ. Tua cuốn có 2, 3 nhánh đối diện với lá. Hoa mọc thành cụm xim 2 ngả đối diện với lá. Qủa mọng, lúc còn non có màu xanh, lúc chín màu đỏ mận. Qủa thường có 2- 3 hạt, hạt có vỏ cứng mặt ngoài màu nâu đen.

Trên thế giới, cây chè dây phân bố trên nhiều nước như Lào, Trung Quốc, Indonexia, Ấn Độ, Campuchia.

Thành phần hóa học của cây chè dây

Theo những nghiên cứu trong nước, trong lá chè dây có nhiều flavonoid (nhiều nhất là myricetin và dihydromyricetin) với hàm lượng cao (18-19%), tanin catechic (10,8-13,3%), và đường.

Theo các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc trong lá A. cantonienisis mọc ở Trung Quốc có flavon, protein, nguyên tố vi lượng (K,Ca, Fe, Zn) và các vitamin (E,B1,B2)

Tác dụng và công dụng của cây chè dây

Tác dụng sinh học của chè dây

Theo những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước, chè dây có các tác dụng sinh học sau:

  • Cao khô chè dây và các flavonoid myricetin và dihydromyricetin không gây ngộ độc cấp tính trên chuột thí nghiệm
  • Cao chè dây không ảnh hưởng tới các chỉ tiêu hóa sinh và huyết học, bao gồm số lượng hồng cầu, bạch cầu, công thức bạch cầu, protein huyết thanh, urê máu khi cho thỏ dùng thuốc trong thời gian dài 5 tuần.
  • Myricetin không gây rối loạn nhiễm sắc thể, không ảnh hưởng tới sinh sản và di truyền
  • Cao khô chè dây và các flavonoid myricetin và dihydromyricetin thử sơ bộ cho thấy có hoạt tính chống oxy hóa cao
  • Cao khô chè dây và myricetin có khả năng thải độc theo có chế trung hòa gốc tự do của tetraclorua carbon
  • Cao khô chè dây và các flavonoid myricetin và dihydromyricetin còn ức chế sự phát triển  của một số chủng vi khuẩn chủ yếu là các chủng Staphylococus aureus và một số chủng vi khuẩn Bacillus (myricetin có tác dụng trên 11 chủng, dihydromyricetin và cao khô có tác dụng trên 14 chủng)
  • Cao đặc chè dây có tác dụng tốt trong điều trị vết bỏng nông ( bỏng độ II – bỏng biểu bì, bỏng Độ III – bỏng trung bì nông), việc sử dụng cao chè dây chỉ gây xót ở lần bôi đầu trong vòng 15- 20 phút, không gây độộc hại tại chỗ cũng như toàn thân đối với bệnh nhân.

Nghiên cứu của Phùng Gia Hợp cho thấy cao đặc chè dây có tác dụng điều trị vết bỏng nông: bỏng độ II và bỏng độ III khá tốt. Vết bỏng tạo được màng thuốc, lớp màng thuốc bám chắc vào bề mặt vết thương. Khi màng thuốc bong thì vết bỏng lành sẹo bề mặt mềm và mịn. Thời gian khỏi trung bình của bỏng độ II là 9,2 ngày, bỏng độ III là 18,5 ngày

Công dụng của cây chè dây

Nghiên cứu về chè dây của TS Vũ Hương Thủy Phần 1 7

Chè dây chữa đau dạ dày

Theo kinh nghiệm dân gian: Lá chè dây có vị ngọt đắng, tính mát và có nhiều công dụng

  • Nhân dân vùng núi phía Bắc dùng pha nước uống hàng ngày thay thế chè và để trị đau dạ dày
  • Nhân dân vùng Lạng Sơn lá đắp vào chỗ bị sưng tấy có mủ ( áp xe vú).
  • Dùng lá tươi giã đắp vào các vết bỏng
  • Nhân dân ở Sapa dùng nước sắc hoặc nước hãm dạng chè uống hàng ngày với tác dụng thanh nhiệt, chữa mất ngủ, kích thích tiêu hóa, điều hòa huyết áp, ổn định thần kinh, viêm đường ruột cho kết quả rất tốt.
  • Trong hơn 10 năm qua đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học trong nước về tác dụng điều trị loét dạ dày-hành tá tràng của cây chè dây:
  • Luận án phó tiến sĩ Vũ Nam đã đưa ra những kết luận về tác dụng cắt cơn đau dạ dày, làm liền sẹo ổ loét hành tá tràng, làm sạch HP, làm giảm viêm dạ dày của chè dây có kết quả tốt hơn so với dùng Alusi. Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra kết luận: Chè dây không độc và không có tác dụng không mong muốn

Luận án thạc sĩ y học của Nguyễn Thị Tuyết Lan đưa ra những kết luận về tác dụng rất tốt trong điều trị loét dạ dày hành tá tràng có nhiễm HP, bằng nhóm thuốc AMPELOP-METRONIDAZOL-AMOXICILLIN. Trong đó AMPELOP là một chế phẩm đợc sản xuất từ chè dây.

Kết quả nghiên cứu dưới sựu chỉ đạo của Nguyễn Khánh Trạch theo dõi điều trị cho bệnh nhân loét dạ dày hành tá tràng bằng AMPELOP-AMOXICILLIN-FLAGYL co thấy thuốc AMPELOP có tác dụng tốt trong việc cải thiện các triệu chứng lâm sàng của bệnh loét dạ dày hành tá tràng. Trong tất cả các bệnh nhân nghiên cứu không có trường hợp nò có biểu hiện tác dụng không mong muốn của thuốc.

Như vậy, đặt ra cho chúng ta một câu hỏi các thành phần hóa học trong chè dây tại sao lại có những công dụng tuyệt vời như vậy?

Myricetin trong chè dây

Myricetin trong lá chè dây là một flavonoid được Perkin phân lập tư vỏ cây Myrica nagi Thumb, họ Dâu rưượu Myricaceae từ năm 1896, có công thức phân tử C15H10O8

Cấu trúc của myricetin đưược xác định vào năm 1902 là 3,5,7- trihydroxy 2-(3’,4’,5’- trihydroxyphenol) 4,1- benzopyran-4-on hay 3,3’,4’,5,5’,7-hexahydroxy-flavon và sau đó đưược J.Kalff và Robinson tổng hợp năm 1925

Nghiên cứu về chè dây của TS Vũ Hương Thủy Phần 1 8

Công thức cấu tạo của myricetin

Một số tác dụng của myricetin

Myricetin có hoạt tính của vitamin P, hoạt tính này thể hiện tác dụng làm bền vững mao mạch, giảm tính giòn của thành mạch.

Nghiên cứu ảnh hưởng của quercetin và myricetin trên hệ thống tạo gốc tự do và peroxyd hóa trong microsom tế bào gan chuột, Laughton M.J  và CS nhận thấy những cây có nhiều flavonoid không những có tác dụng chống oxy hóa mà còn giảm các tiền chất oxy hóa.

Bên cạnh tác dụng chống oxy hóa, tác dụng chống ung thư của một số flavonoid cũng được quan tâm. Camoirano A. và CS đã nghiên cứu tác dụng chống ung thư của một số flavonoid thấy myricetin, bilirubin vad cucurmin có khả năng ức chế sự đột biến gây nên bởi 2 tác nhân 4-nitroquynolin-1-oxyd và khói thuốc lá trên các chủng Salmonella typhimonium TA100 VÀ TA98.

Acid tanic, quercetin, myricetin ngăn cản sự khởi đầu ung thư trên biểu bì và phổi chuột Sencar gây ra bởi tác nhân hydrocarbon thơm.

Nghiên cứu gần đây nhất của các nhà khoa học ở Mỹ, Hàn Quốc và Trung Quốc cho thấy myricetin có khả năng chống ung thư tiềm tàng do tác dụng tới đích là thụ thể MEK và ức chế COX-2 do ngăn chặn phản ứng hoạt hóa của NF- Kb.

Trên đây là một số những thông tin về các đề tài nghiên cứu về cây chè dây được chúng tôi tổng hợp. Để biết thêm các nghiên cứu về cây chè dây bạn có thể tham khảo tại đây https://traday.org/nghien-cuu-ve-che-day-cua-ts-vu-huong-thuy-phan-2/. Hoặc truy cập trang web Traday.org để biết thêm các thông tin về chè dây

 

 

Comments (No)

Leave a Reply

0889635960
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon